Trang chủ | Thư Viện | Viện Bảo Hiến: Cấu trúc và phận vụ

Viện Bảo Hiến: Cấu trúc và phận vụ

 
 
 
Trong thể chế được Hiến Pháp cứng rắn bảo đảm :
 
   - Quốc Hội có thể gặp phải những  lằn mức (thuyết lý cũng như thực hữu) không thể vượt qua trong khi soạn thảo và chuẩn y  luật pháp.

   - Chính Quyền không thể áp dụng luật pháp tùy hỷ để thi hành bằng cách nào, lúc nào và đối với ai và bao nhiêu cũng được,

   - Tư Pháp không thể giải thích luật pháp theo ý nghĩa nào và phán quyết ra sao cũng được.

Tất cả những động tác đó phải được thực hiện trong tinh thần bảo vệ các giá trị mà Hiến Pháp ấn định.

Bởi đó các Hiến Pháp cứng rắn luôn lôn tiền liệu một vài dụng cụ , nhờ đó có thể kiểm soát được tình cách hợp hiến hay vi hiến của luật lệ, để xoá bảo đi hiệu lực của các đạo luật vi hiến và cấm áp dụng tùy hỷ lên đầu lên cổ dân chúng (T. Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 583).


Để bảo đảm cho mục đích vừa kể, bảo đảm cho các giá trị thể chế Nhân Bản và Dân Chủ, các Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, cũng như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tiền liệu một cơ quan với phận vụ vừa kể. Đó là Viện Bảo Hiến (Corte Costituzionale, Ý Quốc; Bundesverfassungsgericht,   B.V.G., Cộng Hoà Liên Bang Đức). 

Viện Bảo Hiến Ý Quốc cũng như của Công Hoà Liên Bang Đức có những đặc tính cá biệt về cấu trúc cũng như phận vụ:

 
   - Viện Bảo Hiến phán quyết


      * về những mối tranh chấp tính cách hợp hiến có hiệu lực luật định các đạo luật, nghị định của Quốc Gia và các Vùng.

      * về các mối tương phản giữa các cơ chế quyền lực Quốc Gia, giữa quyền hạn Quốc Gia và quyền hạn các Vùng, và giữa các Vùng với nhau.

      * về những tố cáo chống lại Tổng Thống Cộng Hoà và cácBộ Trưởng, dựa trên luật Hiến Pháp" (Điều 134, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

  - Viện Bảo Hiến Liên Bang quyết định,

     * trong các trường hợp bất đồng hay nghi ngờ về tính cách hợp hiến thuyết lý hay thực hữu giữa đạo luật Liên Bang (Bund) hay đạo luật các Tiểu Bang (Laender) đối với Hiến Pháp nầy (Grundgesetzt), hay sự tương hợp hay bất đồng của một đạo luật các Tiểu Bang đối với một đạo luật Liên Bang,theo lời yêu cầu của Chính Quyền Liên Bang, Chính Quyền của một Tiểu Bang hay của 1/3 thành viên của Hạ Viện Liên Bang (Bundestag) (Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Đọc lại ý nghĩa của hai điều khoản vừa trích dẩn của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, chúng ta thấy được phận vụ của Viện Bảo Hiến (hay Viện Bảo Hiến Liên Bang) là phán quyết:

   - tính cách vi hiến hay hợp hiến các đạo luật và nghị định , (dự thảo do nhiều chủ thể khác nhau), nhưng được Quốc Hội chuần y,

   - các tranh chấp giữa quyền lực giữa các cơ chế Quốc Gia,

   - các tranh chấp giữa quyền lực Quốc Gia trung ương (hay Liên Bang) và các Vùng (hay các Tiểu Bang),

   - các tranh chấp, đụng chạm giữa các Vùng (hay Tiểu Bang) với nhau,

   - các vụ tố cáo Tổng Thống Cộng Hoà (hay Tổng Thống Liên Bang) có các hành động vi hiến,

   - các phán quyết của cơ quan tư pháp, mà cá nhân hoặc  đoàn thể  cho là lạm dụng, vi hiến đối với các quyền căn bản của con người hay đi ngược lại các quyền được xác định bởi các điều 20, đoạn 4; điều 33, 28, 101, 103 và 104  của Hiến Pháp 1949 (Điều 93, đoạn 4a Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức),

   - các cách giải thích không có tính cách thuyết phục của cá nhân hay tổ chức xã hội trung gian để vi phạm quyền và lợi thú chính đáng của con người, được người dân đệ trình lên Viện Bảo Hiến.

   - việc chấp nhận được hay không đối với các cuộc trưng cầu dân ý bải bỏ các điều khoản luật, mà người dân thấy không còn có lý do để tồn tại.

Nói tóm lại, Viện Bảo Hiến có phận vụ bênh vực các giá trị được thể chế Nhân Bản và Dân Chủ thiết định, được Hiến Pháp bảo vệ, chống lại

   - các cơ quan công quyền thường nhiệm (Quốc Hội, Chính Quyền và Cơ Quan Tư Pháp),

   - các chủ thể tản quyền (Cộng Đồng Địa Phương: Vùng, Tỉnh, Xã Âp)

   - tổ chức xã hội trung gian cũng như cá nhân (erga omnes),

để bảo vệ phẩm giá con người và thể chế Dân Chủ (Điều 1 và 20, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức),

 - và chống lại cả cơ quan thượng đẳng tối cao  của Quốc Gia (Tổng Thống Cộng Hoà hay Tổng Thống Liên Bang), trong trường hợp có hành động vi hiến.

Với bao nhiêu lãnh vực trực thuộc thẩm quyền của mình như vừa kể, chúng ta thấy được phận vụ của Viện Bảo Hiến, bảo toàn các giá trị được Hiến Pháp bảo vệ, là phận vụ phức tạp và mênh mông, như chúng ta đã có dịp đề cập đến (cfr. VIỆN BẢO HIẾN ĐỨNG GIỮA VÀ ĐỨNG TRÊN; VIỆN BẢO HIẾN CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC).

(cfr.  A. Pace, Problematico delle libertà costituzionale, II ed., Cedam, Padova 1990, 84s).

 

I - Cấu trúc và phận vụ.

Với phận vụ mênh mông và phức tạp như vừa kể, chúng ta thử tìm hiểu qua Viện Bảo Hiến phải được cấu trúc thể nào để có thể chu toàn bổn phận của mình, là cơ quan thượng đỉnh của công lý và là thành đồng bảo vệ cho các giá trị Nhân Bản và Dân Chủ được xác định trong thể chế Quốc Gia.

Nói một cách tổng quát, với những phận vụ khác nhau vừa kể, thành phần cấu trúc của Viện được thay đổi cho hợp nhu cầu và tinh thần đối với mọi quyết định liên quan đến  tính cách vi hay hợp hiến của vấn đề được đặt ra:

- các đạo luật được Quốc Hội chuẩn y,

- các cuộc đối chọi giữa các quyền lực Quốc Gia được phân quyền,

- quyền lực Quốc Gia trung ương đối với đối với các quyền dành cho địa phương,

- tính cách chấp nhận được hay không cho một cuộc trưng cầu dân ý bải bỏ những đạo luật được coi là không còn hợp thời, áp đặt hay vô ích,

-các lần tố cáo cách hành xử vi hiến của Tổng Thống.

 

   A - Các trường hợp thông thường.

 Trong các trường hợp thông thường và thường khi xảy ra (là ba trường hợp đầu), Viện Bảo Hiến được cấu tạo với thành phần 15 thẩm phán,

   - 1/3 được chính Tổng Thống Cộng Hoà tuyển chọn,

   - 1/3 do Quốc Hội Lưỡng Viện, trong một phiên nhóm họp chung,

   - và 1/3 là những thẩm phán do Tối Cao Pháp Viện và các thẩm phán thuộc các Viện Quản Trị (amministrative):

 

Viện Bảo Hiến gồm có 15 thẩm phán, 1/3  được Tổng Thống tuyển chọn, 1/3 do Quốc Hội Lưỡng Viện trong một phiên nhóm chung và 1/3 do Tối Cao Pháp Viện và các thẩm phán thường vụ quản trị" (Điều 135, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Có lẽ đọc điều 135 vừa kể, những người ngoại cuộc như chúng ta, đọc một cách vô thưởng vô phạt, nhưng tinh thần của các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không hẳn như vậy, nhứt là đoạn văn

   - "1/3 thẩm phán được Tổng Thống tuyển chọn".

Quyền chọn 1/3 thẩm phán Viện Bảo Hiến được giao cho Tổng Thống tuyển chọn là để cân bằng lại thành phần cấu trúc của Quốc Hội Lưỡng Viện, nếu chẳng may Quốc Hội đang bị thành phần đa số khuynh đảo.

Nói cách khác, Ý Quốc cũng như hầu hết các Quốc Gia Tây Âu, kể cả các Quốc Gia theo Quân Chủ Lập Hiến là những Quốc Gia theo Đại Nghị Chế. Bởi đó, các chính đảng chiếm đa số, kết quả sau cuộc bầu cử vừa qua, có thể đang lãnh đạo Hành Pháp và đồng thời cũng có thể là đa số ở Quốc Hội. Như vậy,  họ có thể vừa "làm luật " (lập pháp, Quốc Hội "chuẩn y hay bác bỏ luật ") vừa "hành pháp" (Chính Quyền) áp dụng,  thi hành luật pháp tùy hỷ, nếu được cả thành phần của Viện Bảo Hiến lại toàn là "bồ nhà "ủng hộ, đồng thuận chấp nhận mọi cách hành xử nữa, thì họ không còn gì bằng, độc tài của Phát Xít - Mussolini có gì khác hơn?

Đó cũng là một loại hình thức mà người Ý thường gọi là "độc tài dân chủ " (dittatura democratica)!

Do đó để cân bằng lại hình thức "độc tài dân chủ "như vừa kể có thể xảy ra, Hiến Pháp giao 1/3 thẩm phán, thành viên Viện Bảo Hiến cho Tổng Thống tuyển chọn.

Và chắc chúng ta còn nhớ trong bài TỔNG THỐNG TRONG ĐẠI NGHỊ CHẾ, chúng ta đã có dịp đề cập đến cách bầu cử Tổng Thống, theo tinh thần điều 83:

 

   - * "Tổng Thống được Quốc Hội tuyển chọn trong một phiên họp chung của các thành viên".

     * "Việc tuyển chọn Tổng Thống có sự tham dự của 3 đại diện của mỗi Vùng, được Hội Đồng Vùng lựa chọn thế nào để bảo đảm cho cả thành phần thiểu số..." (Điều 83, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Đoạn 2 của điều vừa kể cho thấy đặc tính dân chủ và bình đẳng của Hiến Pháp.

Tổng Thống Cộng Hoà là kết quả, là tiếng nói đại diện cho quyền lực Quốc Gia trung ương, nhưng cũng là tiếng nói đại diện cho nhu cầu và ước vọng của các Cộng Đồng Địa Phương (Vùng), và là tiếng nói của cả thành phần thiểu số,

   - "...được lựa chọn thế nào để bảo đảm cho cả thành phần thiểu số".

Như vậy, trong một Quốc Gia Dân Chủ, không ai là kẻ "thấp cổ bé họng ", bị "bịt miệng ", không được nói lên quyền và lợi thú chính đáng của mình và những gì mình mong ước cho Cộng Đồng Quốc Gia,

"Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội"chẳng hạn.

Ở Ý thành phần thiểu số có tiếng nói của họ là tiếng nói phát xuất cả từ miệng Tổng Thống Cộng Hoà, vị Nguyên Thủ Quốc Gia, không có "bọn mọi rợ "nào có thể bịt miệng được, bọn đó là thành phần đa số ở Quốc Hội, Chính Quyền hay Toà Án cũng vậy.

Tinh thần Dân Chủ và Bình Đẳng đó, được đại diện nơi con người của Tổng Thống Cộng Hoà, là kết quả của cả 3 đại diện mỗi Vùng tham dự tuyển chọn, cùng với các dân biểu Quốc Hội Lưỡng Viện.

Và như vậy, trở lại vấn đề cấu trúc của Viện Bảo Hiến,

"1/3 thẩm phán của Viện Bảo Hiến được Tổng Thống Cộng Hoà tuyển chọn".

Với động tác đó, Tổng Thống Cộng Hoà đem tiếng nói của các Cộng Đồng Địa Phương (Vùng), kể cả tiếng nói của thành phần thiểu số "thấp cổ bé họng "vào Viện Bảo Hiến, cơ chế "đứng giữa và đứng trên" (super partes) để phán quyết cách làm luật, áp dụng luật và phán xét theo luật của những ai hành xử quyền lực Quốc Gia.

Những gì vừa kể là cách tuyển chọn cấu trúc Viện Bảo Hiến của một Quốc Gia duy nhứt (unique), như điều 5 hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác nhận:

 
   - "Nền Cộng Hoà là một và bất khả phân...".

Và sau đây là cách tuyển chọn Viện Bảo Hiến của một Quốc Gia Liên Bang, như Cộng Hoà Liên Bang Đức:

   - "Thành viên của Viện Bảo Hiến Liên Bang (Bundesverfassungsgericht) phân nửa được Hạ Viện Liên Bang (Bundestag) tuyển chọn và phân nửa do Thượng Viện (Bundesrat)..." (Điều 94, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Như vậy Cộng Hoà Liên Bang Đức giao cho Quốc Hội Lưỡng Viện hoàn toàn tuyển chọn thành phần cấu trúc của Viện Bảo Hiến.

Làm sao tránh được nguy cơ "độc tài dân chủ "được đề cập ở trên?

Nêu lên câu hỏi đó, chúng ta quên rằng Đức Quốc là  một Quốc Gia Cộng Hoà Liên Bang (Điều 20, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), và từ đó thành phần Thượng Viện không có tiến trình tuyển chọn như Quốc Gia duy nhứt (unique) ở Ý. Bởi lẽ thành viên của Thượng Viện Cộng Hoà Liên Bang Đức là những thượng nghị sĩ, thành viên được Chính Quyền các Tiểu Bang bổ nhiệm hay thu hổi:

 

   - "Thượng Viện Liên Bang (Bundesrat) được cấu trúc bằng các thành viên của Chính Quyền các Tiểu Bang (Laender), được Chính Quyền bổ nhiệm hay thu hồi..." (Điều 51, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Và như chúng ta biết  Đức Quốc là một Quốc Gia Liên Bang. Bởi đó thành phần đa số đương quyền có thể là đa số ở Hạ Viện và Chính Quyền Liên Bang (Bund) trung ương.

Nhưng điều đó không có nghĩa là thành phần đa số đương quyền trung ương cũng đương nhiên là đa số ở các Tiểu Bang. Thành phần thiểu số đối lập có thể là thành phần đa số đương quyền, trong Chính quyền cũng như Quốc Hội ở một hay nhiều Tiểu Bang nào đó. Như vậy, Chính Quyền các Tiểu Bang có quyền bổ nhiệm thành viên của mình vào Thượng Viện Liên Bang, cho thấy Thượng Viện Liên Bang là tiếng nói của dân chúng ở các Tiểu Bang (cfr. QUỐC HỘI CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC).

Bởi đó, các thượng nghị sĩ thuộc thành phần thiểu số đối lập, bỏ phiếu chung với các dân biểu đối lập của Hạ Viện có thể trở thành đa số, lật ngược thế cờ.

Các thượng nghị sĩ đó bỏ phiếu cùng với dân biểu Hạ Viện Liên Bang, tuyển chọn thành viên của Viện Bảo Hiến là đem tiếng nói của Cộng Đồng Địa Phương, của các Tiểu Bang vào Viện Bảo Hiến để phán quyết mọi cách lập pháp, hành động và phân xử vi hiến của cơ chế Quốc Gia trung ương như vừa nói.

Đó cũng là phương thế tiền liệu của một Quốc Gia Liên Bang tránh "độc tài dân chủ "được đề cập (cfr. Pier Giorgio Lucifredi, Appunti di Diritti Costituzionale Comparato, V ed., Giuffré, Milano 1992, 51).

 

Chúng ta vừa đề cập qua cách tuyển chọn các thẩm phán thành viên của Viện Bảo Hiến, có phận vụ phán quyết tính cách vi hiến hay hợp hiến luật pháp, hành động và cách xét xử của cơ quan tư pháp trung ương.

Về khả năng của các thẩm phán để được tuyền chọn,

   a) các thẩm phán phải là những vị thuộc Tối Cao Pháp Viện, các Toà Án thường vụ hay Toá Án về quản trị, đang nhiệm kỳ hoặc đã về hưu.

   b) là những giáo sư đại học về luật pháp,

   c) các luật sư, sau 20 năm hành nghề trong ngành.

 

  B - Trường hợp tố cáo Tổng Thống vi hiến.

Trong các cuộc phán quyết đối với những lời cáo buộc Tổng Thống Cộng Hoà, thành phần Viện Bảo Hiến thường vụ được tăng cường thêm 16 thẩm phán trợ lực.

Các thẩm phán tăng cường nầy được Quốc Hội lựa chọn theo thể lệ thông thường, tuyển chọn giữa các công dân hội đủ điều kiện luật định, như là những công dân có thể được tuyển chọn thành thượng nghị sĩ:

   - "Trong những cuộc phán quyết đối với những tố cáo chống lại Tổng Thống Cộng Hoà cũng như chống lại các Bộ Trưởng, ngoài ra các thẩm phán thường nhiệm của Viện Bảo Hiến, còn có thêm  sự can thiệp của 16 thẩm phán khác, được rút thăm từ danh sách các công dân hội đủ điều kiện được tuyển chọn thành thượng nghị sĩ,   mà Quốc Hội thiết lập danh sách  cứ mỗi 9 năm một lần và được tuyển chọn theo thể thức các thẩm phán thường nhiệm của Viện" (Điều 135, đoạn 7 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 
Các thẩm phán thường nhiệm của Viện Bảo Hiến được bổ nhiệm với nhiệm kỳ là 9 năm và không được tái nhiệm:

   - "Các thẩm phán của Viện Bảo Hiến được bổ nhiệm với nhiệm kỳ là 9 năm, khởi sự từ ngày thuyên thệ và không được tái nhiệm" (Điều 135, đoạn 3, id.),

ngoại trừ trường hợp mãn nhiệm trong lúc phiên toà đang duyệt xét vấn đề, sẽ được triển hạn cho đến khi kết thúc phiên toà   (Art. 26, L. 25.11.1962, n.20).

Các thẩm phán Viện Bảo Hiến, trước khi đảm nhận nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trung thành tuân giữ Hiến Pháp và luật pháp trong tay Tổng Thống, trước sự hiện diện của Lưỡng Viện Quốc Hội

 

Các phiên hợp của Viện Bảo Hiến, theo nguyên tắc là những phiên họp công cộng, nhưng vị Chủ Tích có thể quyết định có những phiên họp kín, nều phiên họp công cộng có phương hại đến an ninh Quốc Gia, an ninh công cộng hay làm tổn thương đến luân lý, hoặc có thể làm cho dân chúng kích động làm cho Viện không còn có được bầu không khí yên tỉnh để thi hành phận vụ mình (art. 15, L. n. 87 del 1953).

 

Viện Bảo Hiến sẽ mở phiên nhóm họp để phán quyết có sự hiện diện ít nhứt là 11 thẩm phán.

Các cuộc phán quyết sẽ được thực hiện trong phòng họp và có giá trị, nếu có được đa số 2/3 các thành viên hiện diện đồng thuận biểu quyết.

Trong trường hợp số phiếu của hai khuynh hướng tương đương nhau, phiếu của vị Chủ Tịch được coi là có giá trị hơn (Art 16, L. n. 87 del 1953).

Trong trường hợp xét xử các vụ tố cáo,  chống Tổng Thống Cộng Hoà hay các Bộ Trưởngnhư vừa kể, Viện phải cứu xét các đơn tố cáo với ít nhứt 21 thẩm phán  trên (15 thường nhiệm + 16 tăng cường), và các thẩm phán tăng cường phải là thành phần đa số của thẩm phán đoán vừa kể (Art. 26 e 28 L. 25.01.1962, n. 20).

 

Sau cùng Viện Bảo Hiến có thể tiếp nhận và lắng nghe lời khai của các nhân chứng và yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm phải cung cấp cho Viện các tài liệu và dữ kiện cần thiết (Art.13, L. n. 87 del 1953; art 12 , 13 e 14 del 1956 e art 22 L. n. 20 del 1962) (T. Martines, op. cit., p. 587).

 

2 - Vị trí của thẩm phán Viện Bảo Hiến.

   a) Phận vụ  của vị thẩm phán trong Viện Bảo Hiến không thể nào thích hợp được với phận vụ

- của một dân biểu Quốc Hội

- của thành viên Hội Đồng Vùng,

- của một luật sư

- và mọi phận vụ khác được Hiến Pháp liệt kê.

Nói cách khác, vị thẩm phán Viện Bảo Hiến không thể vừa đảm nhận nhiệm vụ vừa kể, vừa là dân biểu Quốc Hội hay vừa là thánh viên của Hội Đồng Vùng, bởi lẽ Viện Bảo Hiến phải đứng ra phán quyết hành vi của các cơ quan vừa kể dựa trên Hiến Pháp (Điều 135, đoạn 6 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Một cách chi tiếc hơn, các thẩm phán không thể đảm nhận hay tồn giữ các phận vụ hay chức năng khác, công cũng như tư, không thể hành xử các nghề chuyên môn, thương mại hay kỹ nghệ, quản tri hay điều hành các công ty, hảng xưởng để kiếm lời.

Trong thời gian hành xử phận vụ thẩm phán Viện Bảo Hiến, các thẩm phán thuộc cơ quan tư pháp hay cả giáo sư đại học cũng không thể tiếp tục hành nghề của mình (Art. 7, comma 1 e 2, L. 11.03.1953, n. 87).

Những tương phản vừa kể, được luật pháp xác nhận giữa phận vụ của thẩm phán Viện Bảo Hiến và các chức vụ được liệt kê, công hay tư, đều được nằm trong nhãn quang vị thẩm phán Viện Bảo Hiến là người có nhiệm vụ xét xử và phán quyết các chức vụ và nghề nghiệp vừa kể, dựa trên Hiến Pháp, nền tảng của Quốc Gia.

 

   b) Ngoài ra các thẩm phán cũng không thể đứng ra tranh cử vào các chức vụ chính trị hay quản trị trong các cơ quan công quyền (Art. 7, comma 5, L. 87 del 1953).

Cũng vậy, theo tinh thần của Hiến Pháp, vị thẩm phán đang  lúc hành xử phận vụ của mình, không được ghi danh vào chính đảng và ai đã ở trong chính đảng trước khi được bổ nhiệm làm thẩm phán Viện Bảo Hiến, thì không được tham gia hoạt động của chính đảng, mặc dầu vẫn có thể thuộc thành phần chính đảng:

   - "Luật pháp có thể thiết định giới hạn các thẩm phán ghi danh vào các chính đảng, có phận vụ trong chức nghiệp quân đội, công chức hay nhân viên cảnh sát, đại diện ngoại giao và lãnh sự ở ngoại quốc" (Điều 98, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) (cfr. art. 8. L. n.87 del 1953).

 

Nói tóm lại, những gì vừa kể cho thấy vị thẩm phán Viện Bảo Hiến là vị quan toà có phận vụ xét xử và phán từ

- Tổng Thống, vị Nguyên Thủ Quốc Gia,

- các cơ quan công quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp),

- đến các chính đảng, các tổ chức xã hội trung gian (cơ xưởng, nghiệp đoàn),

- cho đến tư nhân, dựa trên Hiến Pháp.

Bởi đó các vị không được là thành phần thuộc hệ đối với bất cứ ai, đối với bất cứ tổ chức, cơ quan nào, bởi lẽ nếu không, sẽ có những trường hợp đụng chạm thẩm phán, chính mình  phải đứng ra phán quyết các hành động của mình hay của tổ chức mình thuộc hệ, làm mất đi tính cách không thiên vị của Viện Bảo Hiến "đứng giữa và đứng trên" (super partes".

Dân chủ thực hữu của thiên hạ là vậy.

"Đân Chủ "  của "Đảng và Nhà Nước  mình"có gì  bảo đảm cho công lý và không thiên vị như vậy dựa trên Hiến Pháp, nền tảng trên đó nền Dân Chủ được xây dựng không?

 

3 - Các đặc miễn của thẩm phán Viện Bảo Hiến:

a) Trong thời gian hành xử phận vụ thẩm phán Viện Bảo Hiến của mình, không ai có thể được bãi nhiệm hay tạm ngưng phận vụ xét xử và phán quyết của ông, kể cả Tổng Thống Cộng Hoà cũng vậy, ngoại trừ trường hợp chính Viện Bảo Hiến đứng ra quyết định, hoặc do những việc bất ngờ xảy ra làm cho ông

- không còn có khả năng thể lý và dân sự để thi hành phận vụ

- hay do việc chểnh mảng không thi hành tròn nhiệm vụ (Art. 3, legge cost., n. 1 del 1948).

Quyết định bải nhiệm hay ngưng tạm thời do quyết định của Viện Bảo Hiến như vừa kể, phải được đa số 2/3 thành viên tham dự phiên họp của Viện đồng thuận (art. 7 legge cost. del 1953).

 

b) Trong thời gian đương nhiệm, vị thẩm phán được mọi bảo đảm Hiến Pháp dành riêng cho các dân biểu Quốc Hội, ngay cả việc bị tuyên án hình sự:

  - "Không được Quốc Hội cho phép, không một thành viên nào của Quốc Hội có thể bị xử và tuyên án hình sự, cũng như có thể bị câu lưu, kể cả các phương thức giảm thiểu tự do cá nhân, bị khám xét hay lục soát gia cư, trừ khi bị bắt tại trận một tội phạm và bắt buộc phải có án trác hay lệnh bắt giam" (Điều 68, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Việc được phép khám xét, lục soát và xét xử vị thẩm phán phải được chính Viện Bảo Hiến cho phép (art. 3, legge cost., n. 1 del 1948).

 

c) Mọi ý kiến và lá phiếu được vị thẩm phán xử dụng trong lúc thi hành phận vụ của mình không thể bị ai cấm cản, đàn áp (art. 5, legge cost. n,1 del 1953).

 

d) Chính Viện Bảo Hiến mới có thẩm quyền phán đoán khả năng, điều kiện cần thiết của các công dân được Quốc Hội Lưỡng Viện tuyển chọn như là thành viên thẩm phán tăng cường, theo tinh thần của điều 135, đoạn cuối của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được trích dẫn.

Viện Bảo Hiến quyết định chấp nhận thành viên được đề cử vào thành phần thẩm phán tăng cường với thành phần đa số tuyệt đối (art.2, legge cost. n.2 del 1967),

 

Các đặc tính miễn nhiễm trên được tiền liệu để vị thẩm phán Viện Bảo Hiến được độc lập đối với bất cứ ai và không thiên vị trong các phán quyết của mình bảo đảm cho Hiến Pháp, nền tảng gồm các giá trị mà toà nhà Quốc Gia được xây dựng để bảo vệ và phát huy (Pietro Perlingieri, Commento alla Costituzione Italiana, II ed., Edizioni Scientifiche Italiane, Napoli 2001, 930-932).

 

4 - Chủ Tịch Viện Bảo Hiến.

Một vị thế đặc biệt được Hiến Pháp và luật pháp dành cho vị Chủ Tịch của Viện Bảo Hiến.

 

Ông được Viện Bảo Hiến tuyển chọn với đa số tuyệt đối (50%+1 phiếu).

Trong trường hợp không ai được thành phần đa số vừa kể đồng thuận tuyển chọn, Viện Bảo Hiến tiếp tục một cuộc bỏ phiếu khác.

Và nếu qua lần bỏ phiếu thứ hai cũng không ai chiếm được đa số tiều liệu vừa kể, hai ứng viên được nhiều phiếu nhứt sẽ tranh cử, qua một ccuộc bỏ phiếu tay đôi "lưỡng hổ tranh hùng" (ballottagio) và được trúng tuyển ai có được nhiều phiếu nhứt.

Và rồi nếu "trời xui đất khiến", trong cuộc "lưỡng hổ tranh hùng "cũng không ai hơn phiếu ai,

- người có chức vụ thẩm phán thâm niên hơn sẽ được tuyển chọn

- và rồi nếu số phậm "hẩm hiu "của cuộc bỏ phiếu vẫn duy trì,  không ai có được cả đặc tính vừa kể, nội quy của Viện Bảo Hiến quy định ai là người tuổi tác hơn trong hai,  sẽ được chọn làm Chủ Tịch (art. 6, L. n.87 del 1953).

 

Nhiệm kỳ của vị Chũ Tịch Viện Bảo Hiến là 3 năm và có thể được tái cử:

   - "...vị Chủ Tịch vẫn tại chức với nhiệm kỳ ba năm và có thể được tái cử, ngoài ra nhiệm kỳ thẩm phán vẫn được theo thể thức thông thường (9 năm)" (Điều 135, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Vị Chủ tịch đại diện cho Viện Bảo Hiến,

- triệu tập các phiên họp,

- chủ toạ và duyệt xét hoạt động của các ủy ban,

- hành xử quyền được luật pháp và nội quy của Viện ủy nhiệm cho (art. 22, Nội Quy Viện Bảo Hiến, 20.01.1966).

 

Đi vào chi tiết hơn, Vị Chủ Tịch

a) trong các phiên xét xử và phán quyết tính cách hợp hiến, có thể bổ nhiệm một thẩm phán điều tra, lập biên bản và triệu tập trong 20 ngày kế tiếp các phiên họp liên hệ của Viện để bàn thảo và phán quyết (art. 26 L. n.87 del 1963).

 

b) trong trường hợp mà ông cho là cần thiết, với phương thức hành xử có lý chứng, ông có thể thu ngắn phân nửa thời gian được tiền liệu cho tiến trình thông thường vừa kể (art. 9, Legge cost., n. 1 del 1953).

 

c) điều hành các phiên họp và có quyền đưa ra những vấn đề nào quan trọng hay ít quan trọng hơn để thảo luận theo thứ tự trước sau (art. 17, norme integrative del 1956).

 

d) trong các cuộc bỏ phiếu phán quyết và đưa ra các cáo trạng, Vị Chủ Tịch là người bỏ phiếu sau cùng (art. 18, norme integrative del 1956). Trong trường hợp các ý kiến đối ngược đều ngang nhau, lá phiếu của Vị Chủ Tịch được coi là có giá trị hơn (art. 87, legge del 1953).

 

Qua những gì được đề cập về vị trí của Vị Chủ Tịch trong Viện Bảo Hiến, trên lý thuyết ông được coi là vị thẩm phán thứ nhứt ngang hàng với các thẩm phán khác, "primus inter pares" (như trường hợp Thủ Tướng so với các vị Bộ Trưởng).

Tuy nhiên trên thực tế,

- với quyền triệu tập,

- thiết lập thứ tự tiến trình thảo luận

- và lá phiếu có giá trị trội hơn trong trường hợp các ý kiến đồng thuận và đối nghịch ngang ngữa nhau,

Vị Chủ Tịch ở một vị thế thượng đẳng hơn cácc thẩm phán thành viên khác của Viện.

Dĩ nhiên đó là chưa kể đến uy tính cá nhân của người được chọn làm Chủ Tịch, đối với các thẩm phán khác.

(Giuseppe Volpe, art 135, in Commentario della Costituzione , a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna 1980, 535).

 

Nói tóm lại, với cấu trúc, phận vụ, đặc nhiễm và vị trí của vị Chủ Tịch Viện Bảo Hiến, chúng ta thấy được Viện Bảo Hiến là cơ quan tối cao được Hiến Pháp và luật pháp tiền liệu, có uy quyền, độc lập, miễn nhiễm và vượt lên trên các cơ chế Quốc Gia để bảo đảm cho Hiến Pháp bảo toàn nguyên vẹn giá trị của mình, nền tảng bất di dịch trên đó toà nhà Quốc Gia được xây dựng.

Ước gì Hiến Pháp tương lai của Việt Nam cũng tiền liệu được một cơ chế tối cao vừa kể để bảo đảm những giá trị Nhân Bản và Dân Chủ cho dân tộc Việt Nam.

 

  • email Gửi mail
  • print In ấn
  • Plain text Đọc đơn giản
Khóa
Chưa có khóa cho bài viết này
Đánh giá bài viết
5.00
Powered by Vivvo CMS v4.0